BNEWS Hiện tượng El Nino có khả năng xuất hiện với cường độ mạnh trong giai đoạn 2026–2027, kết hợp xu thế nóng lên toàn cầu đặt Nam Bộ trước nguy cơ gia tăng hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn.
Những tác động này không chỉ đe dọa sản xuất nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long mà còn tạo sức ép đối với nguồn nước sinh hoạt, công nghiệp và phát triển kinh tế – xã hội toàn vùng. Đây là nội dung được các chuyên gia trao đổi tại Hội thảo “An ninh nguồn nước trong bối cảnh El Nino và biến đổi khí hậu: Chuyển đổi số và phục hồi các dòng sông” do Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức chiều 6/11, tại TP. Hồ Chí Minh
*Gia tăng áp lực lên nguồn nước Nam Bộ
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hồng, Phó Phân viện trưởng Phân viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển nhận định: El Nino cường độ mạnh xuất hiện đồng thời với xu thế nóng lên của khí hậu toàn cầu có thể làm trầm trọng thêm tình trạng hạn hán và suy giảm nguồn nước. Những thách thức chính đối với an ninh nguồn nước khu vực Nam Bộ gồm thiếu hụt lượng mưa, suy giảm dòng chảy, xâm nhập mặn tiến sâu vào nội đồng. Bên cạnh yếu tố khí hậu, nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long còn chịu tác động từ hoạt động phát triển ở thượng nguồn. Dung tích hồ chứa trên lưu vực sông Mê Kông đã tăng từ khoảng 15 tỷ m³ (năm 2001) lên 65–73 tỷ m³ (năm 2025) và theo quy hoạch có thể đạt trên 110 tỷ m³. Cùng với đó, nhu cầu sử dụng nước cho nông nghiệp tại các quốc gia trong lưu vực tiếp tục tăng, trong khi hoạt động chuyển nước ra khỏi lưu vực cũng tạo thêm áp lực đối với dòng chảy hạ lưu. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hồng, trong kịch bản rủi ro cao, El Nino duy trì cường độ mạnh và suy yếu dần vào đầu năm 2027, tình trạng thiếu hụt mưa kết hợp suy giảm dòng chảy mùa kiệt có thể làm gia tăng thời gian và mức độ hạn hán, xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long. Với kịch bản rủi ro rất cao, khi El Nino đạt cường độ rất mạnh và kéo dài đến giữa năm 2027; đồng thời, thượng nguồn giảm mạnh lượng nước xả, nguy cơ thiếu nước nghiêm trọng trên diện rộng sẽ gia tăng. Khoảng 350.000 ha lúa Đông Xuân ở Đồng bằng sông Cửu Long có thể bị ảnh hưởng trong kịch bản này.
Ông Trần Minh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Thủy nông và Cấp nước, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam nêu vấn đề: Thượng nguồn sông Mê Kongo chiếm đến 94% tổng lượng nước mặt của Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, trong mùa khô, tỷ lệ nước ngoại sinh lên đến 98%, cho thấy mức độ phụ thuộc rất lớn của đồng bằng vào dòng chảy từ thượng nguồn. Mặc dù, tổng lượng nước cao hơn nhiều so với nhu cầu sử dụng, tình trạng thiếu nước vẫn xảy ra tại nhiều địa phương hạ nguồn.
Nguyên nhân không chỉ nằm ở tổng lượng nước mà còn liên quan đến khả năng phân phối, điều tiết và khai thác nguồn nước theo không gian, thời gian. Hệ thống thủy lợi khu vực Nam Bộ hiện bảo đảm tưới tiêu, kiểm soát nguồn nước cho khoảng 2,65 triệu ha đất canh tác nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản theo thiết kế, nhưng vẫn bộc lộ những hạn chế khi thời tiết cực đoan xảy ra”, ông Trần Minh Tuấn cho biết thêm. Các chuyên gia dự báo, mùa khô 2026–2027 xâm nhập mặn có thể tiếp tục diễn biến phức tạp. Ranh mặn 4 g/l tại sông Vàm Cỏ Đông có thể tiến sâu 100–110 km; Vàm Cỏ Tây 115–130 km; khu vực Cửa Tiểu – Cửa Đại 50–55 km; sông Hàm Luông 70–75 km; sông Cổ Chiên 60–65 km; sông Hậu 58–60 km và sông Cái Lớn 53–57 km. Tại một số cửa sông, mức độ xâm nhập mặn dự báo cao hơn trung bình nhiều năm giai đoạn 2013–2025. Các yếu tố này tác động đồng thời, làm thay đổi chế độ thủy văn, gia tăng nguy cơ ngập úng, sạt lở, xâm nhập mặn và thu hẹp không gian sản xuất nước ngọt. Dự báo đến năm 2030, ranh mặn 4 g/l tại Đồng bằng sông Cửu Long có thể tăng trung bình 3,34 km so với kịch bản nền năm 2020; đến năm 2050 mức tăng bình quân có thể đạt 6,7 km theo kịch bản xác suất 85%. *Chủ động chuyển đổi sản xuất và quản trị nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long là trung tâm sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu lương thực của cả nước. Tuy nhiên, những biến động về khí hậu, dòng chảy thượng nguồn, nước biển dâng và sụt lún đang làm thay đổi điều kiện phát triển của vùng. Các chuyên gia cho rằng, thay vì phụ thuộc vào một cơ cấu mùa vụ và điều kiện nguồn nước cố định, các địa phương cần tính toán sản xuất theo khả năng cấp nước, đặc điểm sinh thái và diễn biến mặn, ngọt của từng khu vực.
Những nơi còn duy trì được điều kiện nước ngọt cần bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất; khu vực có điều kiện ngọt – lợ luân phiên hoặc lợ – mặn cần chủ động lựa chọn mô hình canh tác phù hợp. Đặc biệt, đối với sản xuất lúa, cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản, việc bố trí mùa vụ phải gắn với dự báo nguồn nước, tránh mở rộng sản xuất vượt quá khả năng cấp nước của hệ thống thủy lợi. Đây cũng là yêu cầu quan trọng đối với việc triển khai Đề án phát triển bền vững một triệu ha lúa chuyên canh chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Ông Trần Minh Tuấn nhấn mạnh, cần thay đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp; trong đó, tài nguyên nước được xác định là yếu tố cốt lõi. Nước ngọt, nước lợ và nước mặn đều cần được xem là tài nguyên, khai thác và sử dụng phù hợp với đặc điểm sinh thái từng vùng. Đồng thời, quản lý nguồn nước cần chuyển từ phạm vi từng công trình, địa phương sang cách tiếp cận liên vùng, liên tỉnh, bảo đảm khả năng kết nối và điều tiết giữa các hệ thống thủy lợi. Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Hồng khuyến nghị cần kết hợp đồng bộ các giải pháp công trình và phi công trình. Đối với công trình thủy lợi, cần tiếp tục đầu tư, nâng cấp hệ thống kiểm soát mặn, ngọt tại các cửa sông, trước mắt nghiên cứu các công trình tại cửa sông Vàm Cỏ và Hàm Luông, từng bước mở rộng nghiên cứu tại các cửa sông Cổ Chiên, Cung Hầu. Đồng thời, nâng cấp hệ thống đê biển, các tuyến kênh trục và công trình chuyển nước nhằm tăng khả năng điều tiết, dẫn nước đến những khu vực khan hiếm. Cùng với đó, hệ thống thủy lợi nội đồng cũng cần được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, hình thành các ô thủy lợi chủ động cấp, tiêu và trữ nước, đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp hiện đại. Bên cạnh các công trình tập trung, cần phát triển khả năng trữ nước phân tán tại cộng đồng và hộ gia đình. Một hướng đi quan trọng khác là đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên nước và vận hành công trình thủy lợi. Ông Vũ Văn Thái, Phó Giám đốc Trung tâm Dữ liệu thông tin phía Nam cục chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, việc ứng dụng dữ liệu quan trắc, dự báo khí tượng thủy văn, thông tin dòng chảy và độ mặn sẽ giúp nâng cao khả năng cảnh báo sớm, hỗ trợ cơ quan quản lý đưa ra quyết định điều tiết phù hợp. Các quy trình vận hành liên hệ thống cần được rà soát, hoàn thiện, hướng tới hệ thống hỗ trợ ra quyết định thông minh, tăng khả năng kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các địa phương. Chuyển đổi số cần gắn với nâng cao năng lực dự báo và quản trị rủi ro, thay vì chỉ dừng ở việc số hóa dữ liệu hoặc tự động hóa một số công đoạn vận hành. Các chuyên gia nhấn mạnh, bảo đảm an ninh nguồn nước không thể dựa vào một giải pháp đơn lẻ mà đòi hỏi sự phối hợp giữa quy hoạch, đầu tư hạ tầng, chuyển đổi mô hình sản xuất, tích trữ nước và hiện đại hóa quản trị. Đây là nền tảng để giảm thiểu rủi ro, bảo vệ sinh kế người dân, duy trì năng lực sản xuất nông nghiệp và hướng tới phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khắc nghiệt. Theo BNews/



